|
Tháng 2, sau tết Kỷ Sửu, toàn tỉnh tập trung cho vụ đông xuân. Các ngành các cấp và nhân dân vui đón xuân lành mạnh, an toàn, tiết kiệm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.Giá cả cơ bản ổn định, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh phát triển. Tỉnh tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư vào ngày 6-7 tháng2/2009. Nhiều đoàn cán bộ trung ương về làm việc với tỉnh. Đến nay, các ngành các huyện đã giao KH 2009 đến tận cơ sở để triển khai thực hiện. Toàn tỉnh khẩn trương công tác không bị ảnh hưởng của Tết kéo dài. Bên cạnh đó, có những khó khăn như thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, ảnh hưởng của Tết, tình hình suy giảm kinh tế… Nhìn chung tình hình kinh tế -xã hội Nghệ An tiếp tục phát triển và ổn định.
A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 9/1/2009 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009; Nghị quyết số 30/2008/ NQ-CP ngày 11/12/2008 về giải pháp cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, Các ngành, các cấp khẩn trương thực hiện các công trình UBND tỉnh bổ sung tại Quyết định số 5982/QĐ-UBND ngày 30/12/2008. Các ngân hàng đã hạ lại suất, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh; Các doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng gói kích cấu đầu tư của Chính phủ. Ngành Công thương chuẩn bị hàng hóa đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường, giá cả Tết nguyên đán và tháng 2 không có đột biến; Công tác an sinh xã hội đảm bảo thực hiện tốt. Các ngành, các cấp quyết liệt chỉ đạo sản xuất kinh doanh duy trì và phát triển.
1. Tập trung cho sản xuát vụ đồng xuân:
Sản xuất nông nghiệp: Vụ đông năm 2008-2009, do ảnh hưởng của cơn bão số 7 năm 2008 trên địa bàn tỉnh mưa to gây ngập lụt trên diện rộng, nhiều cây trồng bị hư hỏng, bà con nông dân đã tập trung gieo trỉa lại, tuy vậy, tổng diện tích gieo trồng vụ đông đạt 41.095 ha, bằng 78,8% KH và giảm 21,54% so với vụ đông năm trước. Ngô: diện tích 22.501 ha, bằng 72,64% so cùng kỳ, năng suất ước đạt 29 tạ/ha, giảm 5,17 tạ/ha (giảm 15,13% so cùng kỳ), sản lượng ước đạt 65.253 tấn, giảm 40.587 tấn (giảm 38,34% so cùng kỳ); lạc 2.056 ha, bằng 72,2% cùng kỳ; Rau vụ đông 9.293 ha xấp xỷ cùng kỳ vụ đông 2007-2008.
Vụ xuân: Toàn tỉnh đang tập trung đảm bảo đủ giống, nước gieo cấy để bù thiếu hụt do vụ đông bị ảnh hưởng nặng nề của thời tiết. Sau Tết nguyên đán 2009, tranh thủ thời tiết nắng ấm thuận lợi, các huyện đang tập trung gieo cấy vụ xuân. Sở Nông nghiệp và PTNT đã cử 3 đoàn kiểm tra đôn đốc thực hiện. Đến ngày 10/2/2009, tổng diện tích lúa đã gieo cấy đạt 70.174 ha/KH 84.000ha (đạt 83,54%), tăng 16,95% so cùng kỳ; lạc 17.420 ha/ KH 23.000 ha (đạt 75,74%), tăng 74,21% so cùng kỳ; ngô 8.086 ha/ KH 15.000ha (đạt 53,9% KH), tăng 34,76% so cùng kỳ; rau đậu các loại đã gieo trồng 5.000 ha/KH 10.000ha (đạt 50% KH). Dự kiến đến cuối tháng 2/2009 toàn bộ diện tích vụ xuân sẽ đựoc gieo cấy xong.
Các loại giống cây trồng, vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo thoả mãn nhu cầu sản xuất. Công ty TCT vật tư nông nghiệp đã cho bà con nông dân ứng trước phân bón dể đảm bảo sản xuất vụ xuân.
Về chăn nuôi: Trong tháng, các địa phương tập trung chăm sóc tốt đàn gia súc, gia cầm. Dịch lở mồm long móng và cúm gia cầm đã được khống chế; tình hình gia súc, gia cầm ổn định, (chỉ một số bò thả rông huyện Kỳ Sơn bị bệnh tụ huyết trùng, một số gia cầm huyện Đô lương nhiễm cúm gia cầm). Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y được thực hiện chặt chẽ để hạn chế sự lây lan dịch bệnh cũng như đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán. Công tác kiểm dịch và phúc kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật được tăng cường, các trạm kiểm dịch thực hiện nghiêm túc việc trực, kiểm tra chặt chẽ động vật vào ra địa bàn tỉnh, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Tuy nhiên, trong thời gian tới sản xuất nông nghiệp phải đối mặt với một số khó khăn: Thời tiết diễn biến bất thường, tháng giêng đã có gió tây nam nguy cơ hạn hán, sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất. Mặc dù dịch gia cầm, gia súc đã được khống chế, nhưng vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp, nguy cơ bùng phát nhất là dịch cúm gia cầm và lở mồm long móng gia súc.
Lâm nghiệp: 2 tháng đầu năm 2009 phát động ra quân đồng bộ.Tỉnh tổ chức tết trồng cây xuân 2009, cả 2 tháng trồng được 2,076 triệu cây phân tán, tăng 75,19% so cùng kỳ. Diện tích trồng rừng tập trung tháng 2 ước đạt 350 ha, tăng 40% so cùng kỳ (do năm ngoái thời gian này rét đậm). Đã phát hiện và xử lý 189 vụ vi phạm Luật bảo vệ rừng, gồm 23 vụ khai thác rừng trái phép, 16 vụ mua bán tàng trữ, 143 vụ vận chuyển lâm sản trái phép.
Thuỷ hải sản khai thác và nuôi trồng tháng 2 ước đạt 4.314 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; cả 2 tháng ước đạt 8.081 tấn, tăng 8,9% so cùng kỳ. Trong đó khai thác thuỷ hải sản tháng 2 ước đạt 2.984 tấn, tăng 8% so cùng kỳ, cả 2 tháng 5.573 tấn, tăng 7,17% . Sản lượng nuôi trồng tháng 2 ước đạt 1.330 tấn, tăng 14,95%. Trong tháng 2, tập trung chỉ đạo sản xuất 200 triệu con tôm giống phục vụ nuôi trồng 2.000 ha, trong đó có 1.500 ha nuôi thâm canh.
2. Sản xuất công nghiệp tiếp tục có tăng trưởng:
Các ngành đã triển khai kế họach sản xuất xuống cơ sở và đẩy mạnh sản xuất ngay từ đầu năm. Nổi bật, các nhà máy đường kính, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến tinh bột sắn ... hoạt động tích cực.
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 2 ước đạt 568,9 tỷ đồng, tăng 14,23% so cùng kỳ. Tính chung cả 2 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.209 tỷ đồng, bằng 15,5% KH, tăng 13,96% so cùng kỳ. Trong đó khu vực quốc doanh TW tăng 7,38%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 18,19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,82%; quốc doanh địa phương tăng 10,18% (GTSX công nghiệp cả nước tháng 1 giảm 4,4%trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước giảm 8,5%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước giảm 2,8% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 3,2%).
Nhiều loại sản phẩm chủ yếu sản xuất đạt khá là bao bì 8,49 triệu cái, tăng 20,67%; bật lửa ga 12 triệu chiếc, tăng 15,78%; gạch nung quy chuẩn 73 triệu viên, tăng 25,24%; ngói quy chuẩn 14 triệu viên, tăng 17,39%, nước máy sản xuất tăng 14,36%, điện thương phẩm tăng 14,9%, xi măng 270 ngàn tấn, bằng 15,9% KH; …
Các nhà máy đường sản xuất ốn định, sản lượng tháng 2 ước 21.200 tấn tăng 3% so cùng kỳ; Nhà máy Gạch granit Trung đô sản xuất ổn định ngay từ đầu năm; Kế hoạch tháng 2 đạt 80.000 m2, tăng 34,65%…
Các sản phẩm khác như đá xây dựng do giá tăng cao nên nhiều cơ sở hoạt động tốt như như Hoàng mai, Đô lương, Tân kỳ và các huyện khác đều tăng công suất. Nên sản lượng tháng 2 vẫn tăng 7,3% so cùng kỳ; Các loại vật liệu xây dựng khác sản lượng đều tăng đáp ứng nhu cầu về xây dựng đang phát triển.
Sản xuất điện nước đảm bảo yêu cầu sản xuất và đời sống. Sản lượng nước 2 tháng đạt 2,7 triệu M3, bằng 13,5% kế hoạch năm, điện tiêu thụ 187 triệu KWh, bằng 15,6% KH.
Các khu Công nghiệp Bắc Vinh, Nam Cấm tiếp tục triển khai các dự án đầu tư vào khu công nghiệp (KCN Bắc Vinh đã lấp đầy diện tích, 14/15 dự án đã hoạt động sản xuất có hiệu quả) Nhà máy bao bì SABECO chuẩn bị đi vào sản xuất. Khu kinh tế Đông nam đang hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết các khu chức năng và các dự án đầu tư hạ tầng; sở Công Thương và các huyện tích cực triển khai các khu công nghiệp nhỏ đã được UBND tỉnh phê duyệt cũng như các đề án theo Nghị quyết 01 TU.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển. 2 cơ sở sản xuất gạch ngói công suất 40 triệu viên/ năm tại Hưng nguyên và thị xã Thái Hòa đi vào sản xuất; nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp khác cũng phát triển nhanh như cơ khí, đá xây dựng, vật liệu xây dựng, dệt bao bì… góp phần không nhỏ tăng giá trị sản xuất công nghiệp.
Hầu hết các nhà máy đã bố trí lực lượng bảo vệ an toàn tài sản trong dịp tết. Trong những ngày trước Tết, ngành Điện lực đã kịp thời khắc phục, sữa chữa, đóng điện đưa vào sử dụng các trạm hạ thế mới xây dựng, đảm bảo phục vụ tốt sản xuất kinh doanh và sinh hoạt, không để sự cố lớn xẩy ra trong các ngày tết.
3. Dịch vụ phát triển, tổng mức lưu thông hàng hóa tăng và không có đột biến về giá
a) Về lưu thông hàng hoá, thị trường giá cả:
Tết năm nay lượng hàng hoá được lưu thông rất lớn, các doanh nghiệp, đơn vị và các hộ kinh doanh đảm bảo đủ hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm trong dịp Tết của nhân dân. Tổng giá trị các mặt hàng chủ lực phục vụ tết đạt gần 80 tỷ đồng (trong đó khu vực miền núi 25 tỷ đồng, khu vực đồng bằng và thành thị 55 tỷ đồng). Sau Tết các chợ đầu mối đã hoạt động trở lại bình thường. Nhiều loại hàng hoá được trợ cấp đến tận tay đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa. Tổng mức bán lẻ tháng 2 ước đạt 1.466,8 tỷ đồng, tăng 4,79% so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động của ngành thương nghiệp tăng 4,38%, ngành khách sạn – nhà hàng tăng 12,28%, du lịch tăng 24,37% và dịch vụ giảm 4,4% . Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước đạt 3.171 tỷ đồng, tăng 17,25% so cùng kỳ.
Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 2 tháng ước đạt 22,6 triệu USD, giảm 32% so cùng kỳ. Xuất khẩu hàng hoá tháng 2 ước chỉ đạt 3,24 triệu USD, giảm 38,15% so cùng kỳ; tính cả 2 tháng 6,19 triệu USD, chỉ bằng 48,16% so với cùng kỳ. Mặt hàng xuất khẩu tăng khá là chè búp khô, rau quả, nông sản khác…
Kim ngạch nhập khẩu tháng 2/2009 ước đạt 4,2 triệu USD, giảm 48,5% so cùng kỳ; 2 tháng ước đạt 6,57 triệu USD, chỉ bằng 37,2% so với cùng kỳ. Linh kiện xe máy và chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu giảm.
Tổ chức 2 đoàn kiểm tra, kiểm soát thị trường nhằm ngăn chặn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng lưu thông.
Du lịch: Tháng 2 là tháng sau Tết nguyên đán lượng khách đến Nghệ An vẫn tăng trưởng khá. Các đơn vị lữ hành tích cực xây dựng chương trình du lịch đầu xuân, chương trình giảm chi phí của các đơn vị dịch vụ du lịch, các lễ hội để phục vụ khách và đã tổ chức đón khách quốc tế và dự hội nghị xúc tíến đầu tư . Trong tháng 2, tổng lượt khách đạt 74.300 lượt người tăng 18% so cùng kỳ, trong đó có 3.040 lượt khách quốc tế, doanh thu dịch vụ du lịch đạt 21,67 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng lượt khách đạt 142.566 lượt, bằng 101% so cùng kỳ, trong đó có 5.872 lượt khách quốc tế, tăng 20% so cùng kỳ. Tổng doanh thu du lịch 39.772 triệu đồng, tăng 16% so cùng kỳ. Sở văn hóa - thể thao- Du lịch đang tích cực hoàn thiện đề án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Nghệ An thời kỳ 2008 – 2020.
Giá cả thị trường phục vụ Tết và tháng 2 cơ bản ổn định, một số mặt hàng tăng nhẹ, cụ thể: Thịt gà hơi từ 90.000-120.000đ/kg (năm ngoái từ 70-80 nghìn đồng/kg), thịt bò từ 125.000-150.000đ/kg (năm ngoái từ 90-100 nghìn đồng/kg), hàng điện tử, điện lạnh và đồ dân dụng có giảm do các chương trình khuyến mại kích thích tiêu dùng.
Nhìn chung, cơ cấu hàng tiêu dùng năm nay có nhiều thay đổi, các mặt hàng chế biến sẵn, chất lượng cao sức mua tăng, nhất là ở các thị trấn, thị xã và thành phố Vinh. Qua kiểm tra, theo dõi, hàng hoá đủ cung cấp tiêu dùng không có hiện tượng đầu cơ, tích trữ lượng lớn hàng hoá.
b) Về giao thông, vận tải
Trước Tết UBND tỉnh đã triển khai thực hiện các giải pháp bảo đảm giao thông trên tất cả các tuyến đường bộ, đường thuỷ, sửa chữa các đoạn đường xấu, cầu yếu, bổ sung hệ thống biển báo, cọc tiêu, đường hộ lan, phao tiêu báo hiệu…. Các công trình đang thi công dở dang đã có biện pháp cắt cử người gác tại cầu yếu và các vị trí xung yếu trên tuyến, bố trí rào chắn, biển báo hướng dẫn nhằm đảm bảo an toàn cho nhân dân đi lại trong dịp Tết. Tổ chức lực lượng thường xuyên kiểm tra, giải quyết kịp thời các sự cố ách tắc giao thông, có biện pháp đảm bảo ATGT tại các bến đò.
Trong tháng 2/2008, vận chuyển hàng hoá ước đạt 2,02 triệu tấn, tăng 7,8% so cùng kỳ và 128,3 triệu tấn.km; vận chuyển hành khách ước đạt 2,04 triệu lượt khách và 206,5 triệu lượt khách.km, tăng 12,87% về lượt khách vận chuyển và tăng 11,5% về lượt khách luân chuyển. Doanh thu vận tải ước đạt 163,6 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Công tác quản lý hoạt động vận tải có chuyển biến, thực hiện nghiêm Chỉ thị 01 về vận tải hành khách, tránh hiện tượng vòng vo, đón trả khách không đúng nơi quy định.
c) Bưu chính- Viễn thông: Các dịch vụ bưu chính viễn thông được sữa chữa, nâng cấp nên nhìn chung đáp ứng cơ bản nhu cầu liên lạc của nhân dân. Mật độ thuê bao điện thoại tiếp tục tăng nhanh. 2 tháng đầu năm, thuê bao cố định tăng 6.496 máy, thuê bao di động tăng 31.527 máy. Đến hết tháng 2 đạt chỉ số 34,9 máy/ 100 dân. Chất lượng phủ sóng được tăng lên. Dịch vụ internet phát triển. Doanh thu bưu chính viễn thông tháng 2 là 93,1 tỷ đồng; cả 2 tháng là 186,7 tỷ đồng, đạt 16,34% KH, tăng 19,5% so cùng kỳ.
d) Ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại đến hết tháng 1/2009 đạt 16.234 tỷ đồng, tăng 2,2% so với đầu tháng (tăng 350 tỷ đồng). Tổng dư nợ các ngân hàng thương mại đạt 22.295 tỷ đồng, tăng 3% so đầu tháng; trong đó dư nợ cho vay trung, dài hạn 12.748 tỷ đồng, chiếm 57,2%. Số nợ xấu 421 tỷ đồng chiếm 1,9 % dự nợ. Các ngân hàng thương mại triển khai thực hiện Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh.
4. Tiếp tục triển khai xây dựng cơ bản
Kho Bạc Nhà nước đã thông báo kế hoạch XDCB năm 2009 cho các chủ đầu tư để triển khai thực hiện. Trong 2 tháng đầu năm chủ yếu thi công các công trình chuyển tiếp. Một số công trình trọng điểm đang tập trung thi công như quốc lộ 48 từ thị trấn Kim Sơn – cửa khẩu Thông Thụ, đường vùng dứa, đường Quỳnh phương- Quỳnh Bảng, Xiêng my, Yên tĩnh,… ước khối lượng thực hiện tháng 2 đạt 122,6 tỷ đồng, tăng 7,8% so cùng kỳ. Các công trình sử dụng nguồn trái phiếu Chính phủ thực hiện khối lượng lớn như: đường giao thông ven sông Lam, đường Châu thôn- Tân xuân, các tuyến vào trung tâm xã Tân hương (Tân kỳ), Châu Nga, châu hoàn (Quỳ Châu) Châu Thôn, Quang phong (Quế phong)…
Nguồn vốn giải ngân chủ yếu thực hiện chỉ tiêu kế hoạch 2008; Đến 31/1/2009 giải ngân vốn kế hoạch 2008 qua ngân sách tỉnh đạt 87,83%. Số còn lại chưa giải ngân được thực hiện đến 30/6/2009 theo công văn 16001/BTC-ĐT ngày 30/12/2008 của Bộ Tài Chính (170 tỷ đồng). Vốn trái phiếu giải ngân 48,5%. Giải ngân nguồn vốn XDCB kế hoạch 2009 mới thực hiện 69 tỷ đồng, bằng 7% kế hoạch.
5. Công tác xúc tiến đầu tư khởi sắc:
Công tác vận động thu hút đầu tư được tập trung chú ý. UBND tỉnh phối hợp các ngành TW tổ chức thành công hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh Nghệ An. trên 150 doanh nghiêp, tổng công ty tham gia hội nghị ký kết 30 dự án cam kết đầu tư với tổng vốn trên 21.000 tỷ đồng. Các công trình đã đăng ký đầu tư tiếp tục triển khai như: các nhà máy thủy điện, nhà máy Bia Sài Gòn, nhà máy Xi măng Đô lương…
Một số dự án FDI tiếp tục hoạt động ổn định ( mía đường Tat & lyle, sell, bật lửa ga..). Trong 2 tháng cấp giấy chúng nhận đầu tư cho 07 dự án đầu tư ngoại tỉnh với tổng số vốn đăng ký 1033 tỷ đồng ( Ngoài khu công nghiệp: 710,58 tỷ đồng (Dự án khai thác, chế biến đá ốp lát, khai thác mỏ đá vôi trắng lèn Bút, khai thác mỏ đá vôi trắng lèn Thung Mây tại huyện Tân Kỳ 441,28 tỷ đồng; dự án thủy điện Xoỏng Con 416,3 tỷ đồng, dự án khai thác mỏ đá vôi trắng bản Duộc, huyện Quỳ Hợp 24,98 tỷ đồng). Khu kinh tế Đông nam cấp 2 dự án vốn đăng ký 323 tỷ đồng.
Về ODA: Trong tháng 2 chủ yếu giải ngân các dự án có nguồn bổ sung từ ngân sách tỉnh như dự án thoát nước thị xã Cửa Lò, xử lý chất thải rắn, thoát nước Vinh.
Về NGO: Các dự án của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài viện trợ cho tỉnh tập trung lĩnh vực: y tế, giáo dục, nước sạch, thuỷ lợi, giao thông...Trong tháng 2/2009 dự kiến cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho 60 doanh nghiệp; 2 tháng dầu năm 117 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký kinh doanh 188 tỷ đồng. Công tác kiểm tra sau đăng ký kinh doanh có tiến bộ. Phối hợp với các ngành kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện…
6 . Thu ngân sách một sô khoản tăng khá
- Thu ngân sách: Tổng thu cân đối ngân sách trên địa bàn 2 tháng ước 325,475 tỷ đồng, đạt 13,7% DT năm, bằng 76,8% so cùng kỳ 2008. Trong đó thu nội địa ước 300,475 tỷ đồng, đạt 16,4% DT năm, bằng 80,9% so cùng kỳ.
Một số khoản thu đạt khá như thu thuế CTN - DV Ngoài quốc doanh ước đạt 73,186 tỷ đồng, bằng 19,6 % so DT; thu DN địa phương tăng 37% so cùng kỳ; thu phí và lệ phí ước đạt 23,15 tỷ đồng, bằng 27,2% DT năm, tăng 32% so cùng kỳ; thuế thu nhập đạt 17,5% DT, tăng 275%…
Thu thuế xuất nhập khẩu 2 tháng chỉ đạt 25 tỷ đồng, giảm 52% so cùng kỳ năm trước.
- Chi ngân sách: Tổng chi ngân sách ước đạt 1.016 tỷ đồng, bằng 16,3 % DT năm. 2 tháng đầu năm tập trung cho chi trả lương, phụ cấp lương, chi XDCB thực hiện 200 tỷ đồng chủ yếu thanh toán chỉ tiêu năm 2008 chuyển sang..
7. Văn hoá xã hội tiến bộ, đảm bảo tết toàn diện, an toàn trật tự, an sinh xã hội tốt:
a. Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình: Triển khai kế hoạch 2009 xuống các trung tâm huyện. Giáo dục truyền thông giảm tỷ lệ sinh trong dịp đầu năm.
Sở Lao động TB và xã hội phối hợp các ngành tổ chức đi thăm và tặng quà cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
b. Giáo dục đào tạo, khoa học
Các hoạt động của các ngành giáo dục đào tạo tập trung chỉ đạo hoàn thành tốt học kỳ I năm học 2008 – 2009. Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Kết quả giáo dục đào tạo được nâng cao.
Tiếp tục phong trào “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục“ để nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời tuyên truyền vận động để các đối tượng bỏ học trở lại lớp. Chuẩn bị kỳ thi học sinh giỏi quốc gia.
Sở Khoa học - Công nghệ kiểm tra các đề tài, dự án đang thực hiện trong năm 2008. Chuẩn bị triển khai các đề tài, dự án cấp huyện, ngành năm 2009. Đang tổ chức Hội đồng thẩm định nội dung và kinh phí nhiệm vụ quản lý hoạt động KH&CN của 20 huyện, thành, thị. Tổ chức thành công lễ trao giải sáng tạo khoa học năm 2008.
c. Y tế: Ngành đã tổ chức thành công tổng kết rút kinh nghiệm chỉ đạo điều hành năm 2008, phát động phòng chống dịch bệnh tốt, không xẩy ra các dịch bệnh lớn.
Tiếp tục triển khai công tác tiêm chủng mở rộng trên phạm vi cả tỉnh, nhất là các địa bàn miền núi.
Tăng cường các biện pháp bảo đảm sức khoẻ, vệ sinh an toàn thực phẩm nhát là trong dịp Tết và sau tết Nguyên đán.
d. Lao động thương binh và xã hội
Ngành Lao động-TB,XH tập trung chỉ đạo tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động; xây dựng kế hoạch tuyển sinh đào tạo nghề năm 2009.
Chỉ đạo thực hiện đề án, chính sách đào tạo công nhân kỹ thuật, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất và triển khai dạy nghề lao động miền núi.
Giảm nghèo: đảm bảo 100% hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi cho xoá đói giảm nghèo; đẩy mạnh phong trào ủng hộ Quỹ vì người nghèo xoá nhà ở tạm bợ dột nát.
Thực hiện chính sách và chăm sóc người có công với cách mạng, thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách.
e. Công tác văn hóa thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình:
Tích cực chuẩn bị các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao mừng Đảng, vui Xuân ở các địa phương trong tỉnh.
Tổ chức hội báo xuân tai Thành phố Vinh thành công tốt đẹp. Tổ chức và chuẩn bị tổ chức các lễ hội như Lễ hội Hang Bua, đền Cuông, đền Cờn, đền Quả sơn, Vua Mai... Tăng cường công tác tuyên tryền phục vụ nhiệm vụ chính trị; công tác xây dựng văn bản quản lý nhà nước; công tác quản lý di sản văn hoá, quản lý thông tin báo chí xuất bản; đánh giá các hoạt động thông tin cổ động, các hoạt động văn hoá văn nghệ quần chúng, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc, hoạt động thư viện, điện ảnh và công tác nghệ thuật và sáng tạo sản phẩm văn hoá, công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và công tác xã hội hoá hoạt động văn hoá.
f. Cải cách hành chính
Các ngành, các cấp xây dựng kế hoạch cải cách hành chính năm 2009. Tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động các trung tâm giao dịch một cửa và một cửa liên thông ở các ngành cấp tỉnh, ở các huyện. Thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan tiếp tục công khai hoá thủ tục, xây dựng các quy chế tiếp dân, giảm phiền hà, giảm đi lại cho dân và giải quyết công việc nhanh hơn. Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành gắn với phân công phân cấp cụ thể. Áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001-2000 cho các cơ quan nhà nước.
Thực hiện Quyết định 81/2008/QĐ-UBND ngày 23/12/2008 của UBND tỉnh về giải pháp chỉ đạo điều hành kế hoạch KT-XH năm 2009 một số ngành huyện đã nghiêm chỉnh chấp hành chế độ báo cáo và sử dụng giao dịch qua thư điện tử như sở Thông tin truyền thông, Khoa học công nghệ, Giao thông vận tải, Ban Quản lý khu kinh tế Đông Nam, Nông nghiệp – PTNT, Lao động –TB-XH, Giáo dục – đào tạo, huỵên Anh Sơn, Tương Dương, Yên Thành, Quế Phong, Tân Kỳ... góp phần nâng cao chất lượng thông tin, báo cáo.
g. Quốc phòng , an ninh:
- An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Số vụ phạm pháp kinh tế, các tệ nạn xã hội giảm 5%. Số vụ tai nạn giao thông giảm 5,8%. Nhờ có các biện pháp chỉ đạo quyết liệt nên tình trạng đốt pháo nổ trong đêm giao thừa đã giảm cơ bản (giảm 90% so với Tết năm ngoái). Đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 28 đối tượng buôn bán, tàng trữ và vận chuyển pháo trái phép; 222 đối tượng đốt pháo, thu giữ 170,7 kg pháo các loại.
- Thực hiện tốt công tác tuyển và giao quân đợt 1 năm 2009.
- Công tác dân chủ hoá ở cơ sở được quan tâm hơn truớc. Trong huy động và sử dụng sức dân được thực hiện công khai dân chủ nên được nhân dân đồng tình, và. Xử lý tốt đơn thư, khiếu kiện trong tháng không để xẩy ra các điểm nóng
B. HẠN CHẾ, TỒN TẠI:
1. Ảnh hưởng của suy giảm kinh tế đã tác động rõ
- Dấu hiệu ảnh hưởng suy thoái chung thế giới và cả nước: Một số hàng hóa sản xuất do thị trường xuất khẩu khó khăn nên đã giảm so cùng kỳ 2008 như dệt may, chế biến gỗ... Kim ngạch xuất khẩu giảm so cùng kỳ 2008. Nguồn xuất khẩu lao động và kiều hối giảm đã làm ảnh hưởng đến sức mua trên thị trường và đời sống một bộ phận nhân dân.
- Sản xuất công nghiệp hàng tiêu thụ nội địa vẫn chưa có năng lực mới đáng kể, chất lượng, giá thành vẫn khó cạnh tranh nên giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng chưa cao.
- Các giải pháp khuyến mãi, kích thích tiêu dùng; kích cầu đầu tư do ngân sách tỉnh khó khăn nên thực hiện chưa nhiều.
- Giá cả đầu vào sản xuất nông nghiệp cao, dân chưa mặn mà với vụ đông nên cả diện tích và sản lượng vụ đông đều giảm so cùng kỳ. Công tác thuỷ lợi chưa chủ động tiêu thoát nước nên cây trồng thường xuyên bị ngập úng..
- Tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn còn xảy ra, mặc dù đã có kiểm soát.
2. Vốn xây dựng cơ bản năm 2009 thực hiện còn rất ít
- Kết quả giải ngân kế hoạch 2008 còn thấp, chuyển sang thanh toán trong năm 2009: 170.000 triệu đồng. Các công trình sử dụng vốn trái phiếu, nhất là các tuyến vào các xã tiến độ chậm ( 18 tuyến: mới giải ngân 48,5%; chuyển vốn đăng ký sang năm 2009) Vốn XDCB năm 2009 mới tực hiện 7% kế hoạch
Các dự án đầu tư ngoại tỉnh và đầu tư FDI chưa được như mong muốn; Hạ tầng khu công nghiệp Nam cấm vẫn đang dở dang, các khu công nghiệp khác chưa quy hoạch xong nên chưa có điều kiện hấp dẫn nhà đầu tư sản xuất. Tiến độ triển khai các dự án đã đăng ký hầu hết đều chậm như xi măng Đô lương, Bia sài Gòn Sông lam, Bia Nam cấm, các dự án thủy điện... Các dự án ODA triển khai chậm như : Dự án thoát nước Cửa lò không giải phóng được mặt bằng ; Dự án cấp nước vùng Nam Cấm và phụ cận …
3. Còn để xảy ra dịch bệnh, xử lý bệnh chồi cỏ chậm
Dịch gia cầm, gia súc tuy đã được khống chế nhưng vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch, cần có các giải pháp ngăn chặn kịp thời.(Huyện miền núi Kỳ Sơn xảy ra dịch tụ huyết trùng trâu bò, Huỵện Đô lương dịch gia cầm...) Bệnh chồi cỏ ở mía chưa ngăn chặn được.
4. Thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo còn sai phạm, vẫn còn tình trạng đốt pháo
- Lao động một số doanh nghiệp do cắt giảm việc làm nên thiếu việc tạm nghỉ luân phiên ( dệt may, chế biến gỗ mỹ nghệ...)
- Thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo dịp Tết nguyên đán tại một số địa phương chưa tốt, gây dư luận.
- Dịch tiêu chảy, sốt rét vẫn còn xảy ra. Một số ca bệnh xử lý chưa tốt. Tỷ lệ sinh con thứ 3 ở 1 số huyện tăng (thành phố Vinh)
- Tuy không nhiều nhưng vẫn còn tình trạng đốt pháo trong dịp tết; tệ nạn đề hụi còn nhiều.
- Tình hình an ninh biên giới, buôn bán ma túy, tội phạm vẫn còn phức tạp;
- Tình hình trật tự trị an, tội phạm hình sự vẫn còn gia tăng.
- Số vụ tai nạn giao thông vẫn còn lớn.
5. Thực hiện giao dịch qua hộp thư điện tử chưa nghiêm
- Triển khai các giải pháp theo cơ chế điều hành UBND tỉnh ban hành ở một số đơn vị chưa tốt như bám việc, quán xuyến công việc, thông tin báo cáo yếu.Sắp xếp, bố trí, chỉ đạo có chỗ chưa phù hợp với chương trình, kế hoạch.
- Các cơ quan giao dịch qua hộp thư điện tử còn ít (báo cáo tháng 1/ 2009 có 6 huyên gửi qua thư điện tử), nhất là một số ngành, đơn vị chưa biết địa chỉ của mình.
|
|
Để bảo đảm thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2009; ngay từ đầu năm, các ngành, các cấp triển khai thực hiện tốt kế hoạch kinh tế – xã hội đâ được giao. Trong tháng 3/2009, tập trung thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau đây: ( Các chương trình, đề án trọng tâm của các ngành, các cấp có biểu phụ lục kèm theo)
1. Tập trung cao kiểm tra, đôn đốc hướng dẫn thực hiện kế hoạch 2009 và các Nghị quyết của Chính phủ về ngăn chặn suy giảm kinh tế: Thực hiện Nghị quyết số 30 NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ; Thông báo số 351/TB-VPCP ngày 31/12/2008 của Văn phòng Chính phủ về các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội và Nghị quyết 01 NQ-CP ngày 9/01/2009 của Chính phủ về giải pháp chỉ đạo điều hành kế hoạch KT-XH và ngân sách năm 2009.
- Kích cầu đầu tư XDCB: Triển khai ngay các công trình XDCB đã bổ sung vốn cuối năm. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính phối hợp các ngành đề xuất các dự án hỗ trợ lãi suất vay sản xuất kinh doanh làm việc với các ngành TW bổ sung nguồn vốn kích cầu đầu tư, gắn với huy động nguồn lực của địa phương.
- Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp nghiên cứu các giải pháp khuyến mại để kích cầu tiêu dùng. Ngân hàng mở rộng các đối tượng cho vay, đảm bảo đủ vốn cho các đơn vị phát triển sản xuất, kinh doanh.
- Tiếp tục nghiên cứu cơ chế, chính sách thoả đáng để đầu tư cho công nghiệp địa phương phát triển nhằm tăng nhanh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế của tỉnh.
- Đảm bảo chính sách an sinh xã hội, không để xảy ra trường hợp thiếu đói giáp hạn.
- Đề xuất Chính phủ ( Chuẩn bị làm việc với Phó Thủ tướng) những công trình sản xuất kinh doanh và hạ tầng KT-XH then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của tỉnh
2. Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh.
2.1. Về sản xuất nông lâm ngư nghiệp:
- Triển khai chưong trình hành động số 21 CTr/TU ngày 31/10/2008 thực hiện NQ TW 7 về nông nghiệp nông thôn, nông dân; Bổ sung Quyết định 05 về một số chính sách nông nghiệp.
- Tập trung gieo cấy và chăm sóc cây trồng vụ xuân: Tập trung chăm sóc đảm bảo diện tích 84.000 ha lúa, 23.000 lạc, 10.000 ha rau đậu.... Thực hiện các biện pháp chống hạn, bảo đảm đủ nước, giống, phân bón) cho lúa xuân, cây công nghiệp để đạt năng suất cao nhất. Tích cực phòng chống sâu bệnh cho cây trồng,
- Thực hiện các biện pháp đồng bộ phòng chống dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, tránh tư tưởng chủ quan.Theo dõi sát tình hình diễn biến của dịch bệnh để có biện pháp phòng chống kịp thời.
- Chuẩn bị các điều kiện cho trồng cây nguyên liệu như Dứa, mía , lạc, sắn… Tập trung chăm sóc cây giống lâm nghiệp, trồng rừng vụ xuân. Tích cực phòng chống cháy rừng tại 6 huyện vùng cao, kiểm soát tình hình sâu hại rừng trồng.
- Chuẩn bị ao hồ nuôi trồng thuỷ sản tập trung vùng Quỳnh lưu, nuôi thâm canh tôm 1.500 ha, khai thác có hiệu quả phương tiện đánh bắt xa bờ đảm bảo nguyên liệu cho chế biến. Bảo vệ nguồn lợi biển và bảo đảm an toàn cho ngư dân.
2.2. Đối với công nghiệp:
- Tập trung các điều kiện đẩy mạnh sản xuất công nghiệp ngay từ tháng đầu năm. Các doanh nghiệp xây dựng dự án sử sụng có hiệu quả nguồn vốn kích cấu cấp bù lãi suất của Chính phủ; Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm một cách toàn diện, cả về năng lực sản xuất, giá cả, chất lượng, phương thức phân phối...
Tăng cường công tác thông tin quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Tăng cường chỉ đạo phát triển vùng nguyên liệu để đảm bảo công suất các nhà máy.
- Tiếp tục đầu tư 15 làng nghề, và xây dựng hạ tầng các khu CNN ở Thành phố Vinh, Quỳ Hợp, Đô Lương, Nghi Lộc, Anh Sơn…
2.3. Dich vụ:
- Đảm bảo cung ứng đủ hàng hoá đáp ứng sức mua của dân. Tăng cường thêm công tác tiếp thị, khuyến khích tiêu dùng.
- Các Sở ngành liên quan đến các hoạt động dịch vụ như: Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm có chính sách thích hợp, kịp thời nắm bắt tình hình để xây dựng đề án chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế.
- Các ngành, các cấp tạo điều kiện cho mùa du lịch năm 2009, các ngành, các huyện, thành phố, thị xã tăng cường quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, giữ gìn an toàn cho khách du lịch.
Đẩy mạnh công tác quản lý thị trường. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch, xử lý nghiêm hàng giả, hàng kém chất lượng, pha chế hoá chất độc hại trong thực phẩm.
3. Phân bổ hết các loại vốn
- Chấn chỉnh lại công tác đấu thầu theo luật đấu thầu mới được ban hành, nâng cao năng lực lập và thẩm định dự án. Đề xuất các dự án chỉ định thầu và đầu thầu hạn chế trình Chính phủ. Phân khai hết các nguồn vốn chưa phân trước 31/3/2009 (theo Quyết định 81/QĐ.UBND).
- Tháo gỡ khó khăn giải phóng mặt bằng. Giải quyết địa điểm cho các nhà đầu tư. Kiểm tra công bố giá vật liệu xây dựng, kiểm tra tiến độ xây dựng cơ bản các công trình trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình của Chính phủ. Đồng thời tăng cường giám sát, thanh tra các dự án đầu tư từ nguồn vốn nhà nước. Xây dựng suất đầu tư.
4. Bám sát các nhiệm vụ xúc tiến đầu tư, tháo gỡ vướng mắc cho các dự án đã đăng ký đầu tư
- Bám các nhà đầu tư thực hiện các dự án đàu tư đã đăng ký. Chuẩn bị tổ chưc hội nghị XTĐT các tỉnh miến trung tháng 7/2009. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Có cơ chế quản lý thích hợp đối với doanh nghiệp sau cổ phần hoá. Tháo gỡ kịp thời những vướng mắc về cơ chế, chính sách tài chính, tín dụng, đất đai … để doanh nghiệp phát triển mạnh.
- Ngành Công nghiệp, xây dựng và các ngành liên quan trực tiếp làm việc với các chủ đầu tư, tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm : Thuỷ điện bản Vẽ, Khe Bố, Châu Thôn, xi măng Đô lương, Bia sài Gòn- Sông lam, bia Hà nội…
- Giải phóng mặt bằng và đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp Nam cấm, thúc đẩy các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy. Đôn đốc đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Hoàng Mai.
- Hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết, các dự án đầu tư trong khu kinh tế Đông Nam và các khu công nghiệp. Chuẩn bị tốt các điều kiện để những dự án phát triển công nghiệp của TW triển khai sớm trên địa bàn tỉnh như: Xi măng Tân Kỳ, Tân Thắng sản xuất bột giấy, chế biến nông sản xuất khẩu, các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ.
5. Xúc tiến quan hệ hợp tác; xây dựng chương trình hợp tác với các tỉnh Hàn Quốc, xúc tiến quan hệ với Ixaren, cowet các lĩnh vực chè, cà phê, cao su, xuất khẩu lao động, thực tập sinh...
6. Tổ chức kiểm tra khắc phục sai phạm cấp phát trợ cấp tết; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội
-Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác văn hoá giáo dục, y tế và xã hội. Trước hết chỉ đạo tốt hoàn thành nhiệm vụ năm học 2008-2009.
- Tăng cường quản lý nhà nước về các hoạt động lễ hội, tổ chức vui chơi lành mạnh trong dịp đầu xuân.
- Chuẩn bị tốt công tác phòng trừ dịch bệnh. Củng cố các trung tâm giải quyết việc làm sau cai nghiện; tăng cường công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; Đưa bác sỹ về trạm y tế xã
- Tổ chức triển khai sâu rộng việc thực hiện nếp sống văn hoá, ma chay, cưới hỏi.
- Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Giải quyết tốt vấn đề đời sống cho nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách. Triển khai thực hiện các dự án xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn đúng mục tiêu, đúng địa bàn, đúng đối tượng. Triển khai thực hiện tốt chính sách cho 3 huyện nghèo theo quyết định của Chính phủ.
7. Thực hiện tốt thu, chi ngân sách; các chính sách ưu đãi về thuế
- Về thu: Các ngành, các cấp vào cuộc đốc thúc việc nộp nghĩa vụ ngân sách ngay từ đàu năm. Cục thuế bám sát cơ sở để thu sát phát sinh không để các đơn vị dây dưa nợ đọng, nộp chậm. Xây dựng chế tài xử phạt dây dưa thuế và khen thưởng các đơn vị nộp đúng theo luật. Các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện nghiêm chỉnh các luật thuế. Ngành Thuế phối hợp với Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và MT và UBND các huyện, thành phố, thị xã có nhiều biện pháp khai thác nguồn thu, chống thất thu ngân sách, tập trung các khoản thu về đất, hoạt động XDCB, khai thác tài nguyên, kinh doanh vận tải, kinh doanh vật liệu XD, khách sạn, nhà hàng; đặc biệt là tăng cường các biện pháp quản lý đối với doanh nghiệp NQD, hộ kinh doanh lớn. Thực hiện chính sách của Chính phủ ưu đãi về thuế
- Về chi: Phải đảm bảo yêu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển theo kế hoạch.
8. Các chủ đè án tổ chức sơ kết, bổ sung các chuwong trình dự án theo Nghị quyết 01 của BTV Tỉnh ủy
- Thực hiện rà soát lại các dự án trọng điểm trong Nghị quyết 01 NQ/TU của Tỉnh uỷ để có biện pháp xử lý phù hợp. Phối hợp kiểm tra nhất là các dự án sản xuất kinh doanh.
9. Công tác quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hôị :
Chuẩn bị tốt cho công tác diễn tập khu vực phòng thủ.
Tăng cường công tác bảo vệ an ninh biên giới, vùng biển và trật tự an toàn xã hội. Chú ý tập trung giải quyết dứt điểm các điểm nóng về tranh chấp đất đai, mâu thuẫn nội bộ, tệ nạn xã hội, buôn lậu ...
Triển khai tích cực về công tác dân chủ hoá, nghiêm chỉnh chấp hành nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong việc việc thực hiện các chủ trương huy động sức dân, xây dựng cơ sở hạ tầng.
Triển khai mạnh các biện pháp khắc phục các tệ nạn xã hội, gây rối trật tự... Chỉ đạo chặt chẽ việc phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tăng cường công tác phổ biến pháp luật; Phân cấp giải quyết đơn thư.; tăng cường đối thoại để giải quyết dứt điểm các điểm nóng và bức xúc của dân ..
10. Cải cách hành chính:
- Các ngành huyện căn cứ kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh năm 2009 và các văn bản về CCHC để chỉ đạo triển khai thực hiện.
- Đánh giá tình hình hoạt động của các Trung tâm giao dịch “một cửa”.
- Đánh giá tình hình thực hiện các giải pháp chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội năm 2009 theo Quyết định số 81/QĐ.UBND.
- Đôn đốc thực hiện áp dụng công nghệ thông tin và tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001- 2000 theo chương trình kế hoạch đã duyệt./.
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
|